KENFOX IP & Law Office > IP Practice  > Trademark in Vietnam  > Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự – xu hướng tất yếu tại Việt Nam

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự – xu hướng tất yếu tại Việt Nam

Tải về

Mở đầu

1. Quyền sở hữu trí tuệ (“SHTT”) là một quyền dân sự, nên trong các biện pháp để thực thi quyền SHTT, biện pháp dân sự chiếm một vị trí quan trọng. Tuy nhiên, phân tích số liệu về tình hình xâm phạm và xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (“SHTT”) trong nhiều báo cáo từ các cơ quan thực thi cho thấy: phần lớn các vụ xâm phạm quyền SHTT tại Việt Nam trong thời gian qua được xử lý bằng biện pháp hành chính. Trong khi mỗi năm có hàng ngàn vụ xâm phạm quyền SHTT được xử lý bằng biện pháp hành chính, chỉ có một vài chục vụ được xét xử bởi tòa án. Ưu thế của cơ chế hành chính trong xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT được cho là nhanh, gọn, đơn giản và tiết kiệm so với tình trạng xét xử kéo dài, thủ tục phức tạp và tốn kém chi phí của cơ chế dân sự. Thực trạng giải quyết tranh chấp nêu trên tại Việt Nam dẫn đến hệ quả là các quan hệ dân sự, các tranh chấp dân sự bị hành chính hóa quá mức, khiến cho việc bảo vệ quyền SHTT không triệt để và nghiêm trọng hơn, nhiều hành vi phạm vẫn tiếp tục tái phạm với qui mô lớn hơn, thủ đoạn tinh vi hơn.

2. Dù vậy, trong những năm gần đây, đã xuất hiện ngày càng nhiều các vụ xâm phạm quyền đối với quyền tác giả, sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp được các tòa án Việt Nam xét xử.

Các vụ kin xâm phm SHTT gn đây ti Vit Nam

3. Trong hơn 30 bản án về SHTT tại Việt Nam mà chúng tôi nghiên cứu, có thể thấy rằng, yêu cầu khởi kiện không chỉ giới hạn ở việc ngăn chặn hành vi xâm phạm đang diễn ra, ngăn ngừa các thiệt hại đối với quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Trong hầu hết các vụ kiện về SHTT, yêu cầu bồi thường thiệt hại luôn là trọng tâm hàng đầu. Đáng chú ý, nguyên đơn có khuynh hướng yêu cầu tòa án ấn định mức bồi thường thiệt hại rất cao, từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng. Điển hình là các vụ kiện sau đây:

Một s điu cn ghi nh

4. Trong nhiều trường hợp, nếu không muốn nói là tất cả, chủ thể quyền khởi kiện bên vi phạm một phần là nhằm để gửi thông điệp cảnh báo không chỉ đến bị đơn, mà còn cả những đối tượng khác, rằng họ sẽ hành động để thực thi quyền đã đăng ký của mình để chấm dứt mọi hành vi vi phạm.Như vậy, mục đích của việc khởi kiện không chỉ nhằm vào bị đơn để ngăn chặn bị đơn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Ngoài ra, bên cạnh việc ngăn ngừa hành vi vi phạm và thiệt hại đến quyền SHTT, mục tiêu cơ bản khác của chủ thể quyền khi khởi kiện là yêu cầu tòa án buộc bên vi phạm bồi thường thit hi một cách thỏa đáng. Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại.

5. Bồi thường thit hi được tính như thế nào trong các v kin v SHTT ti Vit Nam? Câu hỏi này liên quan đến căn cứ và phương pháp tính toán mức bồi thường thiệt hại quy định trong pháp luật Việt Nam.

6. Căn cứ và cách tính mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền SHTT tại Việt Nam được quy định tại Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ và Khoản 2, Mục 1, Phần 8 Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 3/4/2008. Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền SHTT bao gồm: thiệt hi v vt chtthiệt hi v tinh thần. Theo Điều 205 Luật SHTT, tòa án có hai phương thức để ấn định mức bồi thường: (i) theo thiệt hi thc tế và/hoặc (ii) theo luật đnh.

7. Để quyết định mức bồi thường theo thiệt hi thc tế, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh “các tổn tht thc tế” mà họ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền SHTT gây ra, phải chứng minh mối liên hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại, cụ thể, thiệt hại phải là kết quả của hành vi vi phạm hoặc sự xâm phạm quyền lợi chính đáng của bên bị thiệt hại dựa trên một trong ba căn cứ sau:

Tổng thit hi vt cht tính bng tin cng vi khon li nhun mà b đơn đã thu được do thc hin hành vi xâm phm quyn s hu trí tu, nếu khon li nhun bị gim sút ca nguyên đơn chưa được tính vào tng thit hi vt cht;

Giá chuyển giao quyn s dng đi tượng s hu trí tu vi gi đnh b đơn được nguyên đơn chuyn giao quyn s dng đi tượng đó theo hp đng s dng đi tượng s hu trí tu trong phạm vi tương ng vi hành vi xâm phm đã thc hin;

Thiệt hi vt cht theo các cách tính khác do ch th quyn s hu trí tu đưa ra phù hp vi quy đnh ca pháp lut.

8. Dù đã có các quy định vừa cụ thể, vừa mở, nhưng trên thực t, chứng minh thiệt hại làm cơ sở để yêu cầu bồi thường thiệt hại luôn không dễ dàng. Do tính chất đặc thù của tài sản trí tuệ, nên nhiều trường hợp nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại hoặc xác định không đầy đủ về những thiệt hại đã xảy ra trên thực tế. Đơn cử, kể cả có yêu cầu từ tòa án, bị đơn vẫn từ chối cung cấp các hóa đơn, chứng từ bán hàng vi phạm, thì không thể có cách nào xác định được “lợi nhun mà b đơn thu được” theo công thức: Tổng doanh thu ca b đơn được tính trên cơ s toàn b các hoá đơn, chng t bán sn phm hoc s dng tác phm vi phm quyn SHTT ca nguyên đơn mà b đơn đã thc hin”.

9. Thu thập được chứng cứ chứng minh “lợi nhun mà b đơn thu được” bằng cách nào khi mà bị đơn là người nắm giữ chúng? Kinh nghiệm từ một số vụ án SHTT gần đây cho thấy, ngoài nỗ lực điều tra chuyên sâu, cách tiếp cận mà chủ thể quyền lựa chọn để thu thập bằng chứng vi phạm, kể cả chứng cứ chứng minh “lợi nhun mà b đơn thu được” để yêu cầu bồi thường thiệt hại là nộp đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính trước khi nộp đơn khởi kiện ra tòa. Các cơ quan hành chính như công an, quản lý thị trường có thể bắt giữ hàng hóa vi phạm, truy vấn ngay lập tức đối tượng vi phạm và tạm giữ các sổ sách, kế toán liên quan nếu phát hiện tại thời điểm thanh tra, kiểm tra. Cách tiếp cận này đôi khi tỏ ra khá hiệu quả trong việc thiết lập chứng cứ vi phạm làm cơ sở để yêu cầu tòa án buộc bị đơn chấp nhận mức bồi thường thiệt hại.

10. Bồi thường thit hi theo lut đnh: Điều 205.1(d) Luật SHTT quy định “Trong trường hp không th xác đnh được mc bi thường thit hi v vt cht … thì mc bi thường thit hi v vt cht do Toà án n đnh, tuỳ thuc vào mc đ thit hi, nhưng không quá năm trăm triệu đng”. Quy định về “bồi thường thit hi theo lut đnh” này được chi tiết hóa tại Thông tư liên tịch: 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP quy định rằng “Nguyên đơn phi chng minh là vic xác đnh mc bi thường thit hi về vt cht trong trường hp này không th thc hin được hoc chưa có đ th trường cho các hàng hoá hp pháp đ xác đnh thit hi ca nguyên đơn da trên mc gim sút doanh thu bán hàng hoá đó trước và sau khi xy ra hành vi xâm phm và yêu cu Toà án áp dụng mc bi thường thit hi theo lut đnh”. Thực tế cho thấy, cơ chế bồi thường thiệt hại theo luật định này hiếm khi được Tòa án chấp nhận. Trong vụ M Corp. (US) kiện Công ty H1, nguyên đơn yêu cầu tòa án buộc bị đơn phải bồi thương thiệt hại theo luật định là 500 triệu đồng, tuy nhiên, yêu cầu này bị tòa án bác bỏ khi cho rằng “Nguyên đơn không xác đnh thit hi c th nên không chp nhn yêu cu buc b đơn bi thường s tin 500 triu đng”.

Tuy nhiên, trong hai vụ án khác được xét xử trước đó, Công ty Ý Thiên kiện Công ty Nhã Quán vì xâm phạm kiểu dáng công nghiệp, Tòa án Bình Dương đã ấn định mức bồi thường là 400.000.000 đồng do nguyên đơn và tòa án không có đủ điều kiện để xác định thiệt hại dù đã áp dụng các biện pháp phù hợp. Tương tự, trong vụ Công ty Thành Đồng kin Cơ s sn xut Ngc Thanh vì xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn”, Tòa án cấp sơ thẩm tỉnh Thanh Hóa đã ấn định mức bồi thường là 200.000.000 đồng trên cơ sở đã xem xét các yêu cầu của nguyên đơn.

Mặc dù không chứng minh được thiệt hại thực tế về vật chất, tinh thần… nhưng tòa án có cơ sở để xác định rằng do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của bị đơn kéo dài và có hệ thống, đã làm ảnh hưởng đến thu nhập kinh doanh mất cơ hội kinh doanh trong việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế và kiểu dáng công nghiệp, danh tiếng và hình ảnh của nguyên đơn bị giảm sút…Nhìn chung, có thể thấy, dù không thể xác định được mức thiệt hại cụ thể, để quyết định mức bồi thường theo luật định, tòa án đều phải xác định rằng có thiệt hại thực tế xảy ra, trong đó tính đến:

Thiệt hi;

Hành vi xâm phạm quyn s hu công nghip; và

Quan hệ nhân qu gia hành vi xâm phm quyn s hu công nghip và thit hi gây ra.

Như vậy, sự tồn tại của thiệt hại thực tế vẫn phải được coi là yếu tố bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm, dựa vào đó, tòa án xem xét nhằm ấn định mức bồi thường theo luật định.

11. Chi phí thuê luật sư: Trong các vụ án về SHTT được xem xét, chúng tôi nhận thấy hầu hết các tòa án đều chấp nhận chi phí mà nguyên đơn chi trả để thuê luật sư được tính như thiệt hại vật chất của nguyên đơn. Điển hình, trong vụ Công ty TNHH Dược phẩm Kim Đồng kiện Công ty CVS, tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu bồi thường từ nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả chi phí thuê luật sư ở mức kỷ lục lên tới 630 triệu đồng.

12. Giám định sở hữu trí tuệ: Giám định về SHTT dùng để chỉ dịch vụ cung cấp ý kiến chuyên gia hoặc chứng cứ chuyên môn về những vấn đề liên quan đến thực thi quyền SHTT, bao gồm xâm phạm quyền SHTT, xác định giá trị quyền SHTT và xác định giá trị thiệt hại do xâm phạm SHTT. Ở Việt Nam, việc giám định về SHTT thường được thực hiện theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp về quyền SHTT hoặc theo chỉ định của cơ quan thực thi (tòa án, thanh tra, quản lý th trường, hi quan, công an, y ban nhân dân các cp) nhằm phục vụ quá trình giải quyết, xử lý xâm phạm quyền SHTT.

Viện Khoa học Sở hữu Trí tuệ Việt Nam (“VIPRI”) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ hiện là cơ quan duy nhất có chức năng cung cấp dịch vụ giám định trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Khi được yêu cầu, VIPRI sẽ ban hành một văn bản “Kết luận Giám định”, trong đó, đưa ra các so sánh, phân tích và kết luận về khả năng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Kết luận Giám định của VIPRI đóng vai trò là bằng chứng do nguyên đơn đệ trình và nó có thể được tòa án xem xét trong quá trình tố tụng. Tòa án không bị ràng buộc về mặt pháp lý bởi Kết luận Giám định của VIPRI. Theo cả luật pháp và thực tiễn, trong quá trình tố tụng tại tòa án, nếu xét thấy cần thiết, tòa án có thể tự mình đối chiếu tài liệu và chứng cứ thông qua các thủ tục tòa án quy định, chẳng hạn như trưng cầu giám định hoặc xin ý kiến chuyên môn từ một cơ quan khác.

Trong các vụ án phức tạp về SHTT, đặc biệt là liên quan đến các yếu tố kỹ thuật trong các tranh chấp về sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp, Kết luận Giám định của VIPRI trong thời gian qua đã hỗ trợ hiệu quả cho quá trình xem xét, giải quyết các vụ án về SHTT bằng biện pháp dân sự tại Việt Nam.

Kinh nghiệm cho thấy rằng, nguyên đơn hầu hết sẽ giành chiến thắng trong các vụ tranh chấp, xâm phạm về SHTT nếu trước đó, họ giành được Kết luận Giám định có lợi từ VIPRI. Do đó, chúng tôi khuyến nghị rằng, dù không bắt buộc, trên thực tế, để củng cố cho các cáo buộc xâm phạm quyền SHTT và xem xét khả năng có khởi kiện hay không, chủ thể quyền nên chủ động yêu cầu VIPRI ban hành Kết luận Giám định, sử dụng nó như một chứng cứ vững chắc làm cơ sở khởi kiện.

13. Tuy còn một số hạn chế như thủ tục phức tạp hoặc thời gian xét xử kéo dài hơn so với biện pháp hành chính, Việt Nam chưa có tòa án chuyên trách về SHTT, cũng như chưa có thẩm phán chuyên trách về lĩnh vực này, nhưng số lượng các vụ việc về SHTT được giải quyết tại tòa án trong thời gian gần đây đang ngày càng tăng lên. Theo quan sát của chúng tôi, tòa án Việt Nam đã giải quyết thỏa đáng nhiều vụ việc phức tạp về SHTT và đây được xem là tín hiệu đáng khích lệ, những nỗ lực và bước tiến vượt bậc từ các tòa án, cho thấy chủ thể quyền đã tin tưởng hơn vào hệ thống tư pháp của Việt Nam và nhận thức rõ hơn giá trị quyền SHTT của mình. Khởi kiện dân sự đang trở thành xu thế tất yếu trong việc bảo vệ quyền SHTT tại Việt Nam, một mặt, tối ưu hóa các lợi ích mà chỉ có biện pháp dân sự mới có thể trao cho chủ thể quyền, mặt khác, nó mở đường cho việc nâng cao năng lực xét xử của hệ thống tòa án của Việt Nam, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền SHTT, đặc biệt trong bối cảnh Luật SHTT được sửa đổi, bổ sung và dự kiến trình Quốc hội Việt nam thông qua vào Kỳ họp tháng 5 năm 2022, một số hành vi như: cạnh tranh không lành mnh, xâm phm quyn đi vi kiu dáng công nghip, tên thương mi, sáng chế…mà trước đây chủ thể quyền có thể yêu cầu xử lý bằng biện pháp hành chính, sẽ buộc phải xử lý bằng biện pháp dân sự để đáp ứng với yêu cầu cao hơn về thực thi quyền SHTT theo CPTPP và EVFTA.